Chương một – Bạch y thiếu nữ

Ngư chu  trục thủy ái san xuân
Lưỡng ngạn đào hoa giáp cổ tân
Tọa khan hồng thụ bất tri viễn
Hành tận thanh khê hốt trị nhân…

Đương thời chỉ ký nhập sơn thâm
Thanh khê kỷ độ đáo vân lâm?
Xuân lai biến thị đào hoa thủy
Bất biện tiên nguyên hà xứ tầm?

Dịch thơ: Vũ Thế Ngọc

Thuyền câu theo suối luyến non xuân
Đào nở đầy bờ chật bến xưa
Ngồi ngắm cây hồng xa chẳng biết
Tận nguồn suối bạc người không qua

Chỉ nhớ lúc xưa vào núi thẳm
Dòng xanh bao thủa vượt rừng mây
Xuân về đây đó hoa và suối
Nhưng suối tiên đâu tìm chốn nào?

Hai đoạn thơ ở trên được trích trong bài Đào Nguyên hành là do đại thi nhân Vương Duy đời Đường sáng tác, dung để miêu tả chốn Đào Nguyên nổi tiếng thiên hạ.
Mảnh đất thiên đường chốn nhân gian này nằm giữa Nguyên Lăng và Đào Nguyên ở Tương Bắc, từ Động Đình hồ đáp thuyền men theo Nguyên Giang ngược dòng đi lên, qua Thường Đức, Đào Nguyên, đi qua Trương Gia Loan đến Thủy Khê, bỏ thuyền lên bờ, đưa mắt nhìn khắp núi là rừng đào, thấp thoáng thấy được một tòa miếu thờ kiểu cách hùng vĩ, đó là Huyền Đô quán mà người tu đạo đời sau xây dựng nên.
Lúc này đang là mùa xuân tháng ba, mùa hoa đào nở, ven bờ Nguyên Giang, bên ngoài Huyền Đô, hoa đào nở rộ khắp nơi, lộng lẫy và hoa lệ, đột nhiên từ sâu trong rừng đào đi ra một nàng bạch y thiếu nữ, tay trái cầm một bó hoa đào, tay phải khẽ nâng vạt áo bước uyển chuyển lách rừng đi ra, chậm rãi đi đến bờ sông.
Bạch y nữ vốn đã xinh đẹp lại thêm trang phục màu trắng thanh khiết càng gợi vẻ trang nhã thoát tục, mắt trong quý phái, mặt tươi như hoa, tô điểm lẫn nhau. Gương mặt như ngọc, dung nhan tuyệt thế, quả thực là Thần Phi(1) ở Lạc Thủy, Thái Chân(2) vừa tắm xong.
Bạch y nữ đến gần bờ sông,  ngưng mắt nhìn ra dòng lưu giang chảy xiết, miệng khẽ nở nụ cười tươi tắn, nàng nắm hờ hoa đào trong tay, bứt xuống mấy nhánh ném vào lòng sông, bị cuộn vào vòng luân sóng, lập tức  theo dòng nước trôi dạt đi. Bạch y nữ khẽ thở dài, thu lại vẻ tươi cười, khuôn mặt trắng hồng thoáng hiện vẻ u sầu…
Ngay lúc đó, từ thượng lưu nhanh chóng xuất hiện một chiếc tiểu thuyền, lao nhanh trên sông, tiểu thuyền đi đến. Loáng cái có thể thấy được đứng trên tiểu thuyền đó là một bào tro tăng nhân đã hơn sáu mươi tuổi, khuôn mặt phúc hậu. Bạch y thiếu nữ sau khi thấy rõ người trên thuyền, mặt vui vẻ trở lại nhõng nhẽo cất tiếng gọi:

–        Sư phụ…

Quẳng bó hoa đào đang cầm trong tay xuống nước, theo sau gót sen một chút bạch y phiêu phong, thân hình nhỏ nhắn nhanh nhẹn thẳng hướng lưu giang chảy xiết mà lao đi, song cước điểm nhẹ tại bó hoa đào trên mặt nước, hai cánh tay dang ra, nhảy lên lần thứ hai, phi thẳng đến bên tăng nhân trên thuyền.

Lão hòa thượng cười một tiếng rồi nói:

–        Đại cô nương đã mười bẩy mười tám rồi vẫn còn tinh nghịch như thế.

Vừa nói, tay phải cầm lên mỏ neo sắt hướng lên bờ lao nhanh đi, lực cánh tay lão tăng thật là kinh người, mỏ neo sắt được ném ra giống như sao băng vút một cái, bất quá bạch y nữ mới nhún người thì chiếc mỏ neo đã cắm phập sâu trên bờ, thân xưởng thuyền bị dòng nước dập xuống, thân như mũi tên rời dây cung, vượt ngang qua mặt nước hai trượng năm thước.

Lão hòa thượng quay đầu lại nhìn theo bạch y thiếu nữ cũng đang nhảy lên bờ, người đến giữa chừng tựa như hết lực, rơi thẳng xuống. Mắt thấy sẽ rơi vào nước, đột nhiên thấy hai tay nàng tung về phía trước một cái, người lại bay cao tám thước, bạch quần như biến thành một chiếc tiểu xa quay vòng vòng, cất tiếng cười trong trẻo đáp xuống bên cạnh hòa thượng, nói:

–        Sư phụ, người xem công phu Yến Tử Xuyên Vân của con lúc này có tiến bộ không?

Lão hòa thượng gật đầu nói:

–        Có một chút tiến triển, chỉ là hỏa hầu vẫn còn kém, như ở trong lúc đó kẻ địch vây đánh, nếu không chú tâm, con sẽ không thể đạt được đến mức như thế này.

Bạch y nữ thấy lão hòa thượng không tán dương nàng thì thôi, trái lại còn nói nàng thiếu hỏa hầu, trong lòng không vui, khuôn mặt nhỏ nhắn nhăn lại chẳng nói năng gì.

Lão hòa thượng nhíu lông mày, hơi hiện sắc giận, trong lòng thầm nghĩ: “ Còn tiếp tục dung túng với nó như thế, nó còn thái quá nhiều hơn, chi bằng nhân cơ hội quở trách mấy câu, triệt đi tính ngang bướng của nó về sau mới nên người được.”

Quay lại thấy mặt nàng như sắp khóc đến nơi, bàn tay mắm chặt, mặt phấn nhợt nhạt vì giận dỗi. Nét mặt cùng dáng điệu đó thật giống với mẫu thân nàng lúc còn sinh tiền, ba mươi năm đã qua như mộng, chuyện xưa tình cũ đều hiện ra trong tâm trí, xúc động một hồi nào còn nhẫn tâm nói lời trách mắng, không thể kiềm chế thấp giọng nói:

–        Lâm nhi, con đến đây.

Bạch y nữ đang làm mặt giận hờn, bỗng nghe sư phụ khẽ gọi, quay trở lại nhìn chỉ thấy lão hòa thượng thân thể khẽ run rẩy, mắt rưng rưng lệ, trong lòng cả kinh, nàng “á” lên một tiếng, nhào về phía hòa thượng, quỳ xuống đất, ôm thõng lấy hai chân sư phụ nghẹn ngào nói:

– Sư phụ đừng giận, sau này Lâm nhi không dám làm cho lão nhân gia tức giận nữa.

Lão hòa thượng kéo cánh tay phải của nàng, đỡ nàng đứng lên, cười nói:

–        Huyền Đô quán chủ Nhất Dương Tử đạo trưởng là một trong Côn Lôn tam lão, Phân Quang Kiếm Pháp cũng có tiếng trên giang hồ, vì muốn bồi tài cho con, ta và ông ấy có giao ước, mỗi bên đều lấy tuyệt nghệ trao truyền lại cho đồ đệ, đạo trưởng truyền thụ Phân Quang Kiếm Pháp cho con, ta sẽ dạy cho đồ đệ của ông ấy La Hán Thập Bát Chưởng Pháp, chỉ mong sau này con có thể sở thành và chính tay thay phụ thân con…

Nói đến đấy thì ngừng lại, lông mày sầu rũ, giật mình không nói nữa, chìm đắm trong hồi ức xưa.

Bạch y nữ thấy sư phụ thần sắc buồn bã, không khỏi khẩn trương, kéo tay lão hòa thượng, nũng nịu rồi nói:

–        Sư phụ, đừng đau lòng nữa, Lâm nhi đã nói, sau này không chọc giận người mà.

Lời còn chưa dứt, bỗng nhiên nhớ tới một việc lại tiếp lời hỏi:

–        Sư phụ vừa nhắc tới phụ mẫu Lâm nhi, nhiều năm qua chuyện này vẫn canh cánh trong lòng con, sư phụ không chịu nói thân thế của Lâm nhi, tội nghiệp con ngay cả bộ dáng của cha mẹ như thế nào cũng không nhớ được, sư phụ không nói cho con biết Lâm nhi thật sự đau lòng muốn chết.

Dứt lời, trên mặt từng giọt nước mắt nối tiếp lăn xuống. Lão hòa thượng nét mặt trang nghiêm cũng tỏ ra bi thương, vuốt nhẹ mái tóc của bạch y nữ , nói:

–        Chuyện này  ngày sau sẽ nói cho con, bây giờ vẫn chưa phải lúc thích hợp, tốt nhất con nên dụng tâm học Phân Quang Kiếm thuật của Nhất Dương Tử sư thúc…

Lão hòa thượng nói đến đây, thoáng thấy lối mòn ẩn hiện giữa rừng đào đi ra một chàng thanh niên phong thần như ngọc, mình mặc trường sam, giầy trắng đế hồng, trong nét văn nhã lại lộ ra vẻ cường kiện, mặt ngọc mắt sáng, nét mặt sáng ngời, lách rừng đi đến, tay áo phiêu phong, chàng thanh niên đến gần lão hòa thượng cúi người hành lễ nói:

–        Gia sư biết hôm nay Trừng Nhân sư bá tới, phái đệ tử ra đây nghênh đón, không ngờ Phật giá sư bá đã đến rồi.

Lão hòa thượng cười nói:

–        Ba tháng qua Lâm nhi quấy rầy bảo quán, chẳng những gây trở ngại việc thanh tu của sư phụ ngươi, chỉ sợ cũng lụy đến tiến trình luyện võ công của ngươi nữa.

Chàng thanh niên đó cuống quít chắp tay cung kính đáp:

–        Hà Lâm sư muội thông minh tuyệt đỉnh, lại được Trừng Nhân sư bá truyền võ công tuyệt học, gia sư nói tương lai thành tựu tốt vô cùng, đệ tử khí chất ngu kém, ba tháng được cùng Hà Lâm sư muội luận bàn võ thuật, khiến cho đệ tử thu hoạch không ít, làm sao có thể nói là làm phiền chứ?

Bạch y thiếu nữ nghe chàng thanh niên đó khen mình, trong lòng phấn chấn vô cùng, không khỏi mặt mày hớn hở, miệng cười trở lại, mới cách đây mày chau mặt ủ vậy mà thoắt cái đã hết, nghiêng đầu ngưng mắt ngắm nhìn chàng thiếu niên với tình cảm nồng thắm, tuy nhiên chàng thanh niên kia lờ đi mắt nhìn thẳng về phía trước, tay buông thõng đứng yên, một tác phong cẩn trọng.

Trong mắt lão hòa thượng đã nhận ra, ngầm thở dài một hơi, thầm nghĩ: “Năm kia Loan nhi tự mình cùng chàng ta đã gặp qua một lần, rồi thường làm náo lên đòi ta đưa đến Huyền Đô quán. Tuy rằng nó nói thích hoa đào ở đây, nhưng đó chỉ là mượn cớ mà thôi, xem ra nó đã nặng tình đối với chàng ta, nhưng vẻ mặt người ta lại thờ ơ, tựa hồ đối với Lâm nhi không hề có tình ý, …Nhớ lại một đoạn tình bão táp trắc trở thời niên thiếu của mình, xém chút nữa đã bị chôn vùi nơi hoang sơn, tuy bởi cơ duyên may mắn gặp được cao nhân, nhân họa đắc phúc, học thành một thân võ công thần kỳ, thế nhưng hồi tưởng những việc đã qua, thoáng như ác mộng tỉnh lại hãy còn cảm giác oán giận kiêu kiêu(3), muốn quên đi mà không được. Đã hai mươi năm theo bái phật vẫn không thể tiêu trừ khái niệm nhỏ ngu ngốc này. Mỗi khi nửa đêm nằm mơ, tâm trí vẫn cứ hiện ra giọng nói, dáng điệu, vẻ mặt vui cười của nàng…Ngày nay nàng đã bị người giết chết. Trước lúc lâm tử, thổ lộ ý yêu thương, hàm lệ ủy thác, Lâm nhi là cốt nhục duy nhất của nàng, nếu như nó lại dẫm vào vết xe cũ, ôm hận suốt đời,, bảo mình làm sao xứng đáng với linh hồn trên trời của mẫu thân nó đây…hiểu được cảm giác này trên trán toát ra mồ hôi lạnh. Ngẩng đầu nhìn, ánh dương xuân ngả về phía tây xuyên qua rừng đào chiếu rọi ở trên mặt Hà Lâm, khóe miệng giữa mi cười như không cười, duyên dáng đằm thắm không chút tà miệm, nhìn say đắm chàng thanh niên kia. Nhìn lại lão nhân gia sắc mặt trang nghiêm, đứng đờ một chỗ ngẫm nghĩ trong lòng: “Nhất Dương Tử thu nhận đồ đệ này cốt cách phi thường, Lâm nhi xinh đẹp vô cùng, mặt ngọc như hoa, đúng là nhìn kỹ cậu ta dường như không có ý gì, người này thật là nam nhi hiếm có giữa đất trời.”

Lão hòa thượng đang nghĩ miên man, chàng thanh niên đó lại cúi người hành lễ nói:

–        Gia sư chực chờ ở đan thất, kính thỉnh sư bá dời bước vào trong!

Lão hòa thượng gật đầu, chuyển thân lách rừng đào, cất bước đi vào trong Huyền Đô quán. Ba người vừa xoay người đi được mấy bước, đột nhiên nghe thấy mấy tiếng tru lên truyền đến thật thê lương. Thanh âm nọ thoáng như loài chim bị thương đang kêu gào giận giữ, như cú vọ rên rỉ đinh tai nhức óc, người nào mà nghe được lông tóc dựng cứng lên. Trừng Nhân đại sư nhíu đôi lông mày, quay đầu lại khiến cho chàng thanh niên và Hà Lâm phải dừng bước đứng sóng vai với nhau, nghĩ qua một cái rồi thẳng đường đi tiếp.

Tiếng tru kia mỗi lúc một gần, nghe thấy cả thanh âm quát tháo ầm ĩ. Bỗng nhiên tiếng tru dừng lại, mơ hồ có tiếng va chạm kim thiết được truyền đến, thiết nghĩ hai bên đã động thủ rồi.

Chàng thanh niên mày kiếm cau lại, nghĩ thầm: Ngoài Huyền Đô quán ở đây thì sông Nguyên Giang thời gian qua nhìn chung yên tĩnh, thanh âm này dường như nghe được bên bờ sông, lẽ nào thật có cường đạo dám ở bên ngoài Huyền Đô quán mà đánh cướp thương tộc hay sao, đành vậy không thể không đi xem được. Tâm niệm khẽ động, lập tức chuyển bộ hướng đi đến bờ sông.

Hà Lâm nổi tính trẻ con, rất thích náo nhiệt, vừa thấy chàng thanh niên đi về phía bờ sông, không thể nhẫn nại ở đó được, gọi một tiếng yểu điệu:

–        Dương sư huynh chờ ta một chút, chúng ta cùng đi!

Chàng thanh niên nghe nàng ta gọi thân thiết, dừng bước quay đầu lại thấy nàng chạy tới như bay, vẻ mặt vui thích, nhõng nhẽo ngây ngô đáng yêu, thầm thở dài trong lòng.

Trong nháy mắt, phía trước rừng đào chạy đến một đại hán máu nhuộm toàn thân, trong tay cầm theo một thanh đơn đao, bị hai lão già đuổi sát phía sau. Ba người xuất hiện cùng một lúc hệt như sao bằng vụt qua, chỉ chớp mắt một cái, đã đến gần hai người. Đột nhiên thấy lão già truy đuổi ở phía trước, vung tay đánh ra một chùm ngân mũi nhọn, tất cả trúng vào lưng đại hán cầm đao máu đầy người. Đại hán đó tuy bị trúng ám khí, vẫn cố ra sức chạy thật nhanh, thoáng nhìn thấy một nam một nữ đứng cản trên đường, lập tức hô lớn:

–        Nhanh đi mời Huyền Đô quán chủ.

Đại hán đó nói ra, hạ chân hơi chậm một bước, đằng sau đã bị hai người lão già đuổi kịp, cùng lúc xuất ra bốn chưởng, đều mạnh mẽ dữ dội như nhau, thân người đại hán bị đánh bay lên cao bẩy tám thước, ngã “phịch” một cái trên mặt đất. Trong miệng hộc ra máu tươi, hai cây đào to bên đường cũng bị chưởng lực của hai lão già chấn rung lên từng đoạn, hoa đào vung rơi khắp cả vùng trời, giống như thả xuống một trần mưa hoa.

Chàng thanh niên xem chưởng thế của hai lão già uy lực như vậy, bụng định mặc kệ, nhưng đại hán đó trước khi bị trúng chưởng kêu chàng đi mời Huyền Đô quán chủ, chẳng lẽ người này và sư phụ có chút liên quan, rồi tự động nghĩ đến việc cứu người, không có thời gian nghĩ đến lợi hại, hai chân đạp trên mặt đất, phi thân lên, đáp xuống đột ngột ngăn trở lối đi của hai lão già. Lúc này hai lão già trông thấy đại hán cầm đao liên tiếp trúng Long Tu châm và Bài Sơn chưởng lực, ngã lăn trên mặt đất rồi, không còn sợ hắn đào tẩu nữa, thấy chàng thanh niên nhún người ngăn cản, hai người đồng thời cùng dừng bước.

Chàng thanh niên này danh tự Dương Mộng Hoàn là ái đồ của Huyền Đô quán chủ Nhất Dương Tử. Nhất Dương Tử là một trong Côn Lôn tam lão, dùng Phân Quang Kiếm pháp và Thiên Cương chưởng mà lừng danh võ lâm. Dương Mộng Hoàn đi theo Nhất Dương Tử đã mười hai năm, được chân truyền phần lớn võ học của phái Côn Lôn.

Dương Mộng Hoàn động thân ngăn cản hai người, cố trẫn tĩnh nhìn xem không kìm nổi sợ đến nỗi nhảy lên một bước. Trông hai người niên kỷ đều trên năm mươi, người ở phía đông có đặc điểm long mày chữ bát, râu cằm hình tam giác, mặt âm dương bên trái màu đen, bên phải màu trắng, tóc rối bù để dài hơn ba phần cái đầu, trái lại người phía tây mặt mày nhợt nhạt chỉ là không có chút huyết sắc nào, giống như người chết đã được một vài năm, y hệt như hoàn hồn phục sinh, dưới cằm bám lại một chòm râu vàng, nhìn mà ớn lạnh.

Hà Lâm thấy Dương Mộng Hoàn tung thân ngăn cản, sợ một mình chàng ta bị thiệt, cũng nhảy lên theo. Chờ nàng trông rõ hình dạng của hai lão quái nhân, liền bị dọa kêu lên một tiếng “a”! hướng sát về bên người Dương Mộng Hoàn.

Quái nhân mặt âm dương cười lạnh một tiếng hỏi:

–        Hai đứa trẻ con nam nữ các ngươi là người như thế nào với Huyền quán đạo chủ? Mau tránh ra đừng có can thiệp vào.
Dương Mộng Hoàn tâm tư cơ mẫn, vừa thấy hai người chưởng chấn cây đào thật oai lực, tự biết hai người hình dạng quái nhân xấu xí, không phải cậy mình là đạo tặc có tiếng trên giang hồ thì cũng là dòng phong trần hiệp ẩn, trước mắt không biết rõ lai lịch của người ta tự nhiên không tiện đắc tội, vả lại mình không phải là đối thủ của bọn họ, chỉ có liệu dùng lời nói chấn an đối phương kéo dài thời gian đợi sư phụ tới nơi rồi hãy tính. Ý niệm đã định, lập tức nói khẽ với bạch y nữ tựa sát bên người:

–        Lâm sư muội nhanh đi thỉnh sư bá, sư phụ.

Hà Lâm xoay thân một chút hướng vào quán chạy đi, Dương Mộng Hoàn lui lại khom người về phía hai quái nhân vái chào nói rằng:

Vãn bối là đệ tử của Huyền Đô quán chủ, xin hỏi đại danh tôn hiệu của hai vị tiền bối, để cho vãn bối thông bẩm gia sư đón khách.
Biết rằng hai lão quái nhân đã nhìn ra được tâm ý của Dương Mộng Hoàn, đồng thời rít lên hai tiếng cười quái dị, quái nhân mặt âm dương dừng tiếng cười lạnh lùng đáp lại:

–        Ngươi oa nhi này rất xảo quyệt, có lẻ ngươi nghĩ rằng uy danh của Nhất Dương Tử có thể khiến chúng ta kinh sợ đấy…

Lão ta lời còn chưa dứt, thì quái nhân sắc mặt nhợt nhạt ở phía tây kia nói tiếp:

–        Lão đại, ngươi cùng với oa nhi này dài dòng làm gì, chúng ta trước tiên liên thủ đông tây bát cho được tên kia rồi hãy nói.

Nói xong thoáng một cái thân hình trực hướng đại hán bị trúng chưởng đang hấp hối dưới đất đánh tới, tình hình lúc này xấu đi, Dương Mộng Hoàn không ra tay là không được rồi, ngầm vận công lực lao tới thật nhanh như mũi tên thoát khỏi dây cung phóng ra chiêu Giang Tiệt Đấu trong Thiên Cương chưởng pháp, hoành ngang đón đỡ, chỉ nghe rầm một tiếng như đánh phải cái trống bị toạc ra rồi vậy, toàn bộ thân thể Dương Mộng Hoàn bị chấn bay xa năm sáu thước, không nghĩ tới công lực Dương Mộng Hoàn thâm hậu đến thế, quái nhân mặt nhợt nhạt kia bất ngờ cũng bị lực ấy dội lại, đẩy lui ra xa ba bốn bước.

Thân thể Dương Mộng Hoàn rơi xuống đất, chỉ cảm thấy hoa mắt chóng mặt một hồi, gần như té xỉu, miễn cưỡng ổn định tinh thần, nhìn lại đại hán thụ thương nằm trên đất kia, kéo theo các vết máu khắp người chảy thấm dài dưới đất đến tám chin thước, hai con mắt trợn ngược lên, mũi, mồm máu chảy ra ngoài không ngừng. Trong tích tắc, hai lão quái nhân chia ra hai bên tả hữu lao vào đánh tiếp, quái nhân mặt âm dương vẫn còn nói trong miệng:

–        Ngươi, oa nhi này tự tìm đến cái chết, ngươi không thể cưỡng lại được thủ đoạn độc ác của Vương đại gia đâu.

Mộng Hoàn vừa mới chịu một cú đã cảm thấy không biết phải làm sao, hiện tại hai người đồng thời lao tới, kỳ thế càng sắc bén, nếu để bản thân hứng chịu luồng khí lần nữa, nhẹ thì trọng thương, nặng thì mất mạng, thế nhưng chàng đã nhận ra đại hán bị thương kia nhất định có mang theo vật rất quan trọng, nói không chừng vật này và bản thân ân sư có liên quan trực tiếp. Sự tình đã đến mức này, Dương Mộng Hoàn không còn cách nào lại cố sống chết bất chấp nguy hiểm, hai tay vung ra toàn lực nghênh chiến. Dương Mộng Hoàn mới vừa phát động, đột nhiên nghe thấy tiếng la to:

–        Hoàn nhi mau lùi lại, ngươi muốn chết phải không?

Dương Mộng Hoàn nghe ra âm thanh của sư phụ, trong lúc cấp bách nhanh chóng thu lại kình lực đang vọt tới, mạnh mẽ dẫn động chân khí tới đan điền, thi triển ra thân pháp Yến Thanh Thập Bát Phiên lộn một vòng giữa không trung. Tuy Dương Mộng Hoàn ứng biến rất nhanh, nhưng vẫn bị chậm một bước, chỉ cảm thấy một cỗ tiềm lực mạnh vô cùng đánh trúng toàn thân, thân người bay thẳng lên giống như diều đứt dây, khí huyện nhộn nhạo hôn mê nhất thời, trong lúc lờ mờ thân thể được người đón đỡ, đồng thời một làn gió thơm thổi vào mặt, cảm giác ở trước ngự có một bàn tay đang xoa bóp cho mình.

Ngay lúc Dương Mộng Hoàn bị nội gia chưởng lực của hai lão quái nhân đánh bay, xuất hiện trên đỉnh cây ở rừng đào phá không hạ xuống một tăng một đạo, song chưởng đều xuất ra, đồng thời đánh ra nội gia chưởng lực, hai đạo cường mãnh đón tiếp đạo kình, lập tức nổ ra một trận kình phong, thổi bay phấn hoa trên mấy cây đào xung quanh, một tăng một đạo đồng thời cảm thấy hơi chấn động, hai lão quái nhân kia bị chấn rơi xuống đất thối liền ba bốn bước mới trụ lại được.

Huyền Đô quán chủ Nhất Dương Tử, quay đầu lại nhìn xem ái đồ thương thế dường như không nhẹ, không khỏi trường mi giương lên, đối diện với hai lão quái nhân quát mắng:

–        Các ngươi Thiên Nam Song Sát cùng với Huyền Đô quán của ta nước sông không phạm nước giếng, dựa vào cái gì làm náo loạn nơi đây, lại hạ độc thủ như vậy, đả thương môn hạ đệ tử của ta, bần đạo mặc dù đã phong kiếm nhiều năm, không hỏi thị phi giang hồ, nhưng hành vi khinh người quá đáng kiểu này của các ngươi, muốn bức ta rút kiếm xuất thủ phải không?
Thiên Nam Song Sát còn chưa kịp trả lời, đại hán mình đầy máu kia đột nhiên động thân nhỏm dậy, lớn tiếng nói:

–        Sư phụ Quy nguyên bí kíp…

Đáng tiếc đại hán còn chưa nói xong, quái nhân mặt nhợt nhạt hất tay phát ra một phi đao, Nhất Dương Tử khoogn nghĩ tới Song Sát nhân cơ hội ra tay độc ác, cảnh giác muốn cứu nhưng đã quá muộn, một thanh phi đao lưỡi dài chín tấc đâm thấu qua ngực. Đại hán đó đã bị trúng một chum Long Tu châm, lại hứng trọn nội gia chưởng lực chấn thương nội phủ, vốn duy trì đã khó khăn, hoàn toàn dựa vào mấy chục năm nội công hỏa hầu và tâm nguyện chưa được hoàn thành của mình nên sinh ra một loại sức mạnh tinh thần, chỉ đủ để duy trì tính mạng, lý nào có thể chịu them một kích trí mạng như thế này, kêu to một tiếng ngã vật xuống đất tắt thở.
Nhất Dương Tử nhìn kỹ đại hán đã chết kia, đúng là đại đệ tử Thái Bang Hùng bị mình trục xuất ra khỏi sư môn hai mươi năm trước, vị thế ngoại cao nhân này không khỏi đau buồn trong lòng, dấy lên lửa giận, cười lạnh một tiếng, tỏ rõ sự tức giận phát tác ra ngoài.
Thoáng nhìn thấy thế, quái nhân mặt âm dương kia lắc người một cái nhanh như phi điểu, lăng không lướt tới chộp lấy thi thể Thái Bang Hùng.

Lúc này Nhất Dương Tử đã có chuẩn bị, thấy quái nhân vẻ mặt vẫn còn tự mãn, liền hét lớn một tiếng phóng tới chém mạnh một chiêu Phong Lôi Giao Kích. Trừng Nhân đại sư cũng bởi Thiên Nam Song Sát đối với người toàn thân bị trọng thương, lại hạ độc thủ thế này, cũng không khỏi dấy lên sực tức giận vô cớ, ống tay áo phất Lưu Huỳnh Vũ Không tấn công vào quái nhân mặt nhợt nhạt.
Nhất Dương Tử là nhân vật ưu tú bậc nhất trong võ lâm đương thời, lúc này lại sẵn căm hận tay cứ thế mà phát, nội kình nhả ra ngoài không thể coi thường. Quái nhân mặt âm dương kia chỉ cố cướp lấy thi thể Thái Bang Hùng mà thôi, thấy chưởng phong ập tới, nhanh chóng né tránh nhưng không kịp. Chỉ có thẻ vung hữu chưởng ra phía sau đón đỡ chưởng lực. Chỉ nghe thấy tiếng kêu đau đớn, cánh tay phải đã bị chấn gẫy, thân thể cũng bị đánh ra xa bảy tám thước, đập vào thân cây đào khiến cho thân cây gẫy đoạn trong sự tán loạn của cánh hoa.

Trừng Nhân đại sư dụng toàn lực đánh quái nhân mặt nhợt nhạt phía trước, mượn ống tay áo phất một thế tụ toàn bộ công lực trên người đánh ra. Xem có vẻ nhẹ nhàng kỳ thực rất nhanh và quyệt liệt vô cùng. Quái nhân mặt nhợt nhạt song chưởng đẩy ra đón đỡ, liền phát giác mình đánh ra nội lực không đủ, ý thức được ngua cơ nhanh chóng lùi về phía sau, tuy nhiên đã quá muộn, chỉ cảm thấy giống như thiết chùy nặng nghìn cân giáng vào ngực, ngã bật trên mặt đất, há mồm phun ra một ngụm máu.

Thiên Nam Song Sát Âm Dương Phán Quan Vương Huyền, Câu Hồn Vô Thường Lý Thông, đều tiếp chiêu với Nhất Dương Tử và Trừng Nhân đại sư, cùng bị trọng thương, chẳng qua võ công của Song Sát đều khá cả, cho nên người tuy bị thương nặng nhưng không nguy hiểm đến tính  mạng, liền nhảy dựng lên, Âm Dương Phán Quan Vương Huyên ngửa mặt lên trời cười một tiếng điên cuồng:

–        Huyền Đô quán chủ, Trừng Nhân đại sư, hai chiêu ban cho suốt đời không quên, huynh đệ ta dù chỉ còn chút hơi thở, nhất định sẽ báo thù này.

Xong đâu đấy, Song Sát cất một tiếng hú ghê rợi như quỷ khóc nơi hoang dã, âm thanh kỳ quái kho nghe vô cùng. Giữa tiếng huýt ghê rợn, người đã lánh ra ẩn thân biến đi trong rừng đào.

Nhất Dương Tử lo lắng cho thương thế của Mộng Hoàn, Trừng Nhân không muốn tạo nhiều sát nghiệt đều không đuổi theo mặc kệ cho Thiên Nam Song Sát lưu lại câu nói tàn độc rồi đào tẩu một cách thảm hại.

Nhất Dương Tử quay đầu nhìn thấy khí sắc Mộng Hoàn từ từ chuyển biến tốt, yên long, dời bước đến bên thi thể Thái Bang Hùng, nhìn mặt thi thể đó mà đau buồn. Vô số vết thương bao gồm cả ám khí tất tần tận trên dưới y phục đều thấm đẫm máu tươi, nhớ lại một thời tình nghĩa sư đồ trong quá khứ, tự nhiên đâm ra chán nản, cúi đầu thở dài, từ từ ngồi xổm xuống sờ vào ngực thi thể đã lạnh băng từ lâu. Vừa định đứng lên, bỗng nhiên nhớ lại trước khi đại hán bị trúng lưỡi đao mà chết, còn mấy câu di ngôn chưa nói hết, trong long khẽ động, thò tay lục tìm một hồi, quả nhiên tìm thấy được một hộp ngọc nhỏ tinh sảo ở trước ngực thi thể, toàn bộ bề mặt hộp là vết máu, may mà chưa bị phá vỡ mất, mở nắp ra xem, bên trong là một mảnh lụa hình chữ nhật dài khoảng một thước, rõ ràng là một bức tranh vẽ cảnh sơn thủy.

Ba tòa cao phong, hai trước một sau xếp thành hình chữ đồ, một cái thác nước ở chính giữa một ngọn phong chảy xuống dưới, thế núi hung vĩ lạ kỳ, ý cảnh sâu xa. Nhất Dương Tử xem một lúc lâu mà vẫn không lý giải được, không có cách nào đành lật giở mảnh lụa trắng nhìn vào mặt bên kia thấy rõ là đã được khâu lại, nghi ngờ trong lòng, chà xát hai ngón tay, thì ra mảnh lụa trắng có hai lớp, được người ta sửa khâu liền lại với nhau. Nhất Dương Tử hai tay xé nhẹ mở ra xem thử, liền thương tâm một hồi hai mắt nhỏ lệ.

Nhất Dương Tử cúi đầu nhìn thi thể Thái Bang Hùng, đứng ngây ra một lúc lâu sau mới thở dài nói:

–        Đáng tiếc con khổ tâm một phen, nhưng vẫn không như mong muốn, tuy thân con đã mất, vẫn về lại sư môn, nên được liệt vào hàng đệ tử phái Côn Lôn!.
Trừng Nhân đại sư chỉ đứng sững sờ một bên nhìn loạt hành động này của Huyền Đô quán chủ. Hơn nữa, Dương Mộng Hoàn vì ngăn cản Thiên Nam Song Sát đến tranh giành đại hán bị thương, xả thân tấn công ngăn chặn, may mắn thay Huyền Đô quán chủ chạy tới đúng lúc, hét lệnh thối lui, mới không đụng tới chính phong chưởng lực của Song Sát, chỉ bị dư lực chưởng phong của Song Sát quét trúng. Từ trên không rơi thẳng xuống, vừa khéo hà Lâm chạy tới đón đỡ được thân thể của chàng ta, thay chàng ta đẩy huyệt lưu thông máu.

Dương Mộng Hoàn vừa né tránh chưởng lực của Song Sát vừa vận nội công bảo vệ chỗ trọng yếu nên chưa bị thượng nặng, được Hà Lâm thôi cung quá huyệt, thông suốt huyết mạch, liền tỉnh táo lại, mở mắt thấy phần lớn thân mình ở sát trong lòng Hà Lâm, trong tâm cùng lúc cảm kích và hổ thẹn, lập tức nhảy dựng lên. Hà Lâm thấy chàng ta nhảy dựng lên một cách mạnh mẽ nhanh nhẹn, trong lòng vui vẻ nói:

–        Dương sư huynh không có bị thương sao?

Dương Mộng Hoàn gật đầu đáp:

–        Nhất thời ngộp thở, thật ngại vô cùng, đã làm phiền sư muội cứu hộ.

Trầm Hà Lâm nhanh chóng lắc đầu cười đáp:

–        Thế này là ta an tâm rồi.

Nói quá lời, thấy không ổn lấy làm xấu hổ đôi má ửng hồng, cúi đầu xuống đùa giỡn vạt chéo y phục.

Dương Mộng Hoàn thấy nàng quan tâm đối với mình như thế, trong lòng vừa cảm kích vừa khó xử, ngầm thở dài, quay đầu đi chỗ khác, thấy sư phụ đang ôm lấy thi thể đại hán mình toàn máu, thấy thế chạy đến nói:

–        Sư phụ, người này là ai? để đệ tử ẵm cho.

Nhất Dương Tử thấy Dương Mộng Hoàn chưa bị nội thương, giảm bớt lo lắng trong lòng, trầm giọng đáp:

–        Người này là Thái Bang Hùng sư huynh nhập môn của con, mau hành đại lễ!

Dương Mộng Hoàn nghe thấy ngẩn ra, bởi vì môn hạ của Nhất Dương Tử chỉ có một mình chàng học nghệ, bình thường chưa từng nghe sư phụ nói qua còn có đệ tử, tự nhiên sao lại vô duyên vô cớ nảy ra một vị sư huynh thế này?. thấy sắc mặt sư phụ trang nghiêm, lý nào còn dám hỏi nhiều, sư phụ đã bảo làm đại lễ, đành phải đối với thi thể mình toàn máu kia cung kính khấu đầu một cái, hai tay đưa sang đón nhận thi thể.

Nhất Dương Tử quay sang nói với Trừng Nhân đại sư:

–        Để ta chôn thi thể đồ đệ trước đã, đêm nay chúng ta lại khiêu đèn nói chuyện, ta vẫn còn có việc muốn cùng đạo huynh thương lượng, mời người và Lâm nhi về quán trước một bước.

Trừng Nhân đại sư bị ông ta làm cho chẳng hiểu ra sao cả, lại không tiện mở lời truy hỏi, buộc lòng phải dắt theo Hà Lâm lách rừng đào đi về Huyền Đô quán trước. Bên này Nhất Dương Tử dẫn theo Dương Mộng Hoàn bồng thi thể Thái Bang Hùng đi hỏa tang, tro đặt vào lọ sứ, chôn ở phía sau quán, Nhất Dương Tử vận dụng thần công Đại Lực Kim Cương Chỉ viết ở trên bia mộ rằng: “Đệ tử nhập môn của Nhất Dương Tử phái Côn Lôn Thái Bang Hùng chi mộ.”

Chôn cất Thái Bang Hùng xong đâu đấy đã đến giờ dậu, chân trời phía đông trăng sáng mới lên, sáng trong như nước, ánh sáng chiếu rọi vạn cây hoa đào. Nhất Dương Tử lòng tràn đầy xót xa, giảo bước về quán, một số chuyện ân oán của mười năm trước đều hiện ra trong đầu, bất chợt quay lại nói rằng:

–        Đồ nhi, trong những năm trước đó sư huynh con vì nhất thời tức giận đã vô tình làm tổn hại môn nhân phái Thiếu Lâm, suýt nữa đã làm mất hòa khí của hai phái, bị ta trục xuất ra khỏi môn trường, sau khi sự việc đó xảy ra nó đã từng lập thệ, tìm đủ mọi cách để trở lại so môn, ba lần quỳ gối ở đan thất cầu xin, đều bị ta cự tuyệt, lúc đó nó chỉ ngón tay lên trời lập lời thề, khuôn mặt khốn khổ nhỏ huyết lệ nói lời cầu xin, chỉ cần ta cho phép nó trở lại làm môn hạ phái Côn Lông, mặc kệ ta đưa ra vấn đề khó khăn gì, nó đều có thể làm được. Lúc đó ta đáp rằng trừ phi nó tìm được Tàng chân đồ kỳ bảo của võ lâm bằng không kiếp này đừng nên nghĩ tới chuyện đó. Phải hiểu đó là ta nói câu bâng quơ trong lúc nóng giận thế thôi, vậy mà nó tưởng thật từ dã đi tìm. Đi suốt hai mươi năm trời rốt cuộc nó cũng tìm được họa đồ đó, chuẩn bị tấn hiến cầu xin ta tái nhận làm môn hạ, đáng thương nó đã lên tới ngoài cửa Huyền Đô quán rồi, lại bị Thiên Nam Song Sát lần ra dấu vết đánh chết. Sau này con học thành nghệ xuất sư, không nên làm càn gây thương hại đối với người tốt, nhưng đối với những kẻ gian ác trong giang hồ, cứ việc mạnh tay trừng trị.

Dương Mộng Hoàn nghe hiểu được có một nửa, chỉ mơ hồ đáp ứng vậy thôi, hai người sư đồ chậm rãi dưới trăng trở về trong quán. Khí trời đã đầu canh, Trừng Nhân đại sư không còn nhẫn nại được nữa, vốn định phát tác vài câu thế nhưng thấy lão hữu tâm tình khác thường, vẻ mặt đau buồn nghiêm trọng, nhỡ nói ra lại khiến tâm trạng ông ta tồi tệ hơn thì sao, liền đứng ngây ra một góc đan thất.

Nhất Dương Tử chuyển bước tới trước án bàn, mở ngăn kéo, lấy ra một chiếc hộp gỗ sơn son thiết vàng, cung kính đặt trên án, trước tiên chỉnh lại tư dung nghiêm trang quỳ lạy một lễ, sau đó mở lấy ra một bức họa hình treo lên vách tường sau án, Dương Mộng Hoàn ngước đầu nhìn kỹ, dưới bề mặt gấm vàng, dùng bạch tuyến thêu lên nên một lão nhân trong trang phục đạo sĩ, lưng đeo trường kiếm, giống như người thật ngoài đời vậy. Dương Mộng Hoàn đang cảm thấy khó hiểu, bỗng nghe Nhất Dương Tử nói to:

–        Đồ nhi mau tới yết kiến di hình tổ sư, bái lĩnh kiếm pháp trấn sơn của phái Côn Lôn.

Trừng Nhân đại sư đăm đăm trong lòng, vội vàng chắp tay hướng lên họa hình treo trên vách tường lễ một cái, nhẹ nhàng lôi kéo Trầm Hà Lâm rời khỏi đan thất. Dương Mộng Hoàn lùi về phía họa hình trên vách tường rồi làm đại lễ tam bái cửu khấu. Nhất Dương Tử chờ cho chàng bái xong xuôi, thu cất họa đồ sư tổ xong, trịnh trọng nói rằng:

–        Trong chốn võ lâm đều tưởng rằng Phân Quang Kiếm Pháp của phái Côn Lôn chỉ có chin mươi sáu thức, kỳ thực hoàn toàn sai lầm, bộ kiếm pháp này có một trăm lẻ tám chiêu, trong đó có mười hai thức kiếm pháp tinh hoa được làm hoàn chỉnh còn được gọi là Truy Hồn Thập Nhị thức, biến hóa thần kỳ dị thường, bởi vì ta và hai sư thúc của con có ước định, khi chưa được ba người đồng ý, mười hai chiêu sát thủ này không được truyền cho đệ tử đời sau. Tối nay phá lệ để cho con tham bái họa hình sư tổ, quyết ý truyền thụ cho con Truy Hồn Thập Nhị kiếm, từ ngày mai bắt đầu mỗi ngày ta dạy cho con một chiêu….

Nói xong một hồi, trong sắc mặt nghiêm túc có hơi chút buồn bã, thở dài một hơi lại nói:

–        Đi ra ngoài mời Trừng Nhân sư bá vào đây. Đêm nay ánh trăng sáng rõ, con có thể cùng Lâm nhi bắt đầu luyện quyền cước một lúc, nếu như không có gọi con và Lâm nhi đều không được đặt chăn vào đan thất một bước.

Dương Mộng Hoàn tuy nhận ra sự việc không phải tầm thường, nhưng cũng không dám truy hỏi, cúi người hành lễ, rời khỏi đan thất. Trừng Nhân đang ở trong sân đại điện chỉ điểm cho Lâm nhi luyện quyền, Dương Mộng Hoàn chuyển lời sư phụ rồi bản thân cùng Lâm nhi đi ra ngoài quán luyện tập quyền kiếm. Trầm cô nương vừa nghe Mộng Hoàn cùng nàng tập kiếm, chợt vui vẻ, khuôn mặt trẻ con cười khúc khích, lý nào còn có tâm đi về phía lão hòa thượng nhàn sự.

Lại nói Trừng Nhân đại sư bước trở lại đan thất, Nhất Dương Tử toàn bộ tinh thần đang chăm chú nhìn vào trong hộp ngọc nơi chứa đựng đồ hình lụa trắng. Khói hương lượn lờ trong ngọc đỉnh, mù mịt mờ ảo, trên bàn hai cây nến đỏ chiếu sáng như ban ngày. Trừng Nhân đến gần bên cạch người, cúi đầu nhìn xuống không nén nổi sự ngạc nhiên.

Bức lụa trắng kia bày ngay ngắn trên án, ngay phía trên bức lụa đề ba chữ to đã phai màu thời gian “ Tàng chân đồ”, bốn câu kệ phía dưới tựa như thơ mà không phải thơ, viết là:

Vạn công quy bí nguyên
Nhất kiếm thần châu hàn
Cổ tùng si trăng sáng
Thạch thượng lưu thanh tuyền

Tạm dịch:

Vạn sự là bí mật
Một kiếm khiếp Châu hàn
Cổ tùng trăng soi bóng
Khe đá suối nước trong.

Phía dưới bốn câu kệ bức hình vẽ nên mấy ngọn phong sơn liền nhau, kẹp giữa hai bên là một cái u cốc, bên trong cốc đường núi quanh co khúc khuỷu. xoay quanh uốn lượn, sâu tận trong u cốc cổ tùng mọc san sát, một cây đặc biệt cao, ánh trăng rọi xuống qua tán lá tựa như những ngôi sao bạc rải khắp mặt đất, một dòng suối trong xanh uốn lượn dưới gốc tùng, chảy thẳng xuống một hố sâu, hố sâu không lớn, giống như một cái thác nước đổ xuống, chỉ là hố sâu này nhìn không thấy đáy. Trên họa đồ cũng không thấy hiển thị ra cảnh vật dưới đáy hố. Nhất Dương Tử quay đầu nhìn Trừng Nhân vui vẻ nói:

–        Bức Tàng chân đồ này là đệ nhất kỳ bảo mà các nhân vật võ lâm trong thiên hạ ai cũng quan tâm để ý tới. Vì tìm Tàng chân đồ này mà một trăm năm qua không biết đã hủy diệt bao nhiêu tính mạng cao thủ trong giang hồ. Ta không làm gì mà lại được hưởng nó.

Nói ra lại nhớ tới một đoạn việc xưa trục xuất Thái Bang Hùng tự nhiên sắc mặt buồn bã. Trừng Nhân đại sư cười hiền đáp:

–        Trong võ lâm đồn đãi chuyện Quy nguyên bí kíp, Tàng chân đồ, ta bất quá chỉ có nghe qua loa, vả lại họ nói nhiều kiểu và rối tính lên. Các người Côn Lôn tam tử địa vị nổi danh võ lâm, danh tiếng hơn mười năm trên giang hồ, kiến thức sâu rộng, tất biết chân tướng trong đó. Cảm phiền nói rõ một cách tận tường, lão hòa thượng xin rửa tai lắng nghe?


Nhất Dương Tử khẽ thở dài nói:

–        Nói đến Quy nguyên bí kíp, nên nhớ lại ba trăm năm trước có hai vị kỳ nhân, Huyền Cơ Chân Nhân và Tam Âm Thần Ni. Hai người thì một quy y Tam bảo, một đã vài Huyền môn, đồng hoài tuyệt kỹ ngang hàng với nhau, công phu nội ngoại đều lên đến hàng tột đỉnh, trong võ lâm đương thời các môn phái đều thiết lập riêng biệt, phân ra Thiếu Lâm, Võ Đang hai phái thịnh nhất, có đông đảo đệ tự, Hoa Sơn, Côn Lôn, Điểm Thương, Không Động, Vân Sơn, Thanh Thành, Nga Mi thất phái đứng hàng thứ, còn lại danh môn danh phái mặc dù cũng có võ công đốc đáo đặc biệt, nhưng không đứng ngang hàng với thất phái trên. Lúc đó cửu phái cùng xuất hiện kỳ tài, thời kỳ cực thịnh của nhân tài võ thuật Trung Quốc, chưởng môn nhân cửu phái đều tự cho mình là chính tông, ước hẹn so kiếm trên đỉnh núi Trung Nhạc Thiếu Lâm, đều là công phu độc môn quyết lấy thứ bậc.

Nhất Dương Tử nói tiếp:

–        Anh hùng thiên hạ cũng không ngoại lệ còn thích thú đi tới đó. Thịnh hội từ trước đến nay chưa từng có, hội tụ ở trước ngọn Thiếu Thất, cửu phái đều chọn ra ba người có năng lực lên đấu trường, thi đấu lần lượt, lấy định để phân thắng thua. So kiếm bẩy ngày, các phái đều có thương vong. Hoa Sơn, Điểm Thương, Không Động, Tuyết Sơn bị loại đầu tiên, Thiếu Lâm, Võ Đang, Côn Lôn, Thanh Thành, Nga Mi sẽ thi đấu quyết định. Ngũ phái tuyển người đều là tinh hoa đương đại, người người thương vong, chẳng phải đã làm cho bao nhiêu tuyệt kỹ bị thất truyền,…

Nói một hồi lại thở dài. Trừng Nhân đại sư nóng lòng muốn nghe kết quả liền nói:

–        Kết quả cuộc đấu đó, thật ra phái nào giành chiến thắng vậy?

Nhất Dương Tử nói:

–        Kết quả luận kiếm lần đó nếu thực sự quyết định được thắng thua, thì thứ bậc đã định rồi, quan trọng nhất lúc bấy giờ là mấy vị tiền bối bị thương mà chết, võ học một số bị thất truyền. Để có thể thay đổi được về sau yên bình, thì vừa vặn lúc cao thủ ngũ phái chuẩn bị động thủ, Huyền Cơ Chân Nhân đã kịp thời chạy tới đỉnh phong Thiếu Thất thuyết phục mọi người dừng tay ngừng chiến. Có điều các chưởng môn nhân ngũ phái thời đó, mấy trăm năm qua đều bị thứ bậc này làm cho khổ não, thật vất vả, tinh anh các phái đều nhất quyết phân thứ bậc, nào chịu bỏ cuộc vào lúc này. Huyền Cơ Chân Nhân lại khuyên giải nhưng vô dụng, liền dùng tay không khiêu chiến cao thủ của ngũ phái. Thiếu Lâm, Võ Đang, Côn Lông, Thanh Thành, Nga Mi vẫn còn lòng hiếu thắng thấy ông tự phụ như thế, ngũ đại môn phái thực sự liên thủ vây đánh ông ta, nhìn bề ngoài bình thường nào đâu biết được Huyền Cơ Chân Nhân võ công đã sớm vào cảnh giới biến hóa, trong vòng năm trăm chiêu bằng tay không đánh bại cao thủ của ngũ phái, giành được tôn hiệu võ công đệ nhất thiên hạ. Ngũ phái luận kiếm quyết tranh chấp thứ tự cũng từ bỏ vào thời điểm đó, hội tỷ kiếm ở Thiếu Thất đỉnh núi Trung Nhạc chỉ vì vậy mà tan.

Trừng Nhân đại sư gật đầu nói:

– Có thể coi Huyền Cơ Chân Nhân đó làm được một việc thiện to lớn, giả như nguyên khí tinh hoa của những người ở ngũ đại tông phái võ lâm đều bị trì hoãn tụt dốc, vậy hiện tượng tài năng hiện có ở trong võ lâm sao lại thịnh vượng như thế này?

Nhất Dương Tử mỉm cười nói:
–        Lần tỷ kiếm ở Trung Nhạc, ngũ phái bị Huyền Cơ Chân Nhân dùng tài năng khuất phục giữa chừng thì giải tán, thế nhưng ngũ phái đối với việc phân tranh thứ bậc không vì thế mà bỏ qua, ngược lại họ thường tự nghiên cứu tích cực võ công bản phái, đệ tử tịnh phái hay khác phái hỗn nhập tranh thủ học võ học của phái khác, chuẩn bị dùng cho tương lai lần thứ hai tỷ kiếm tranh danh. Các phái đối với việc thu nhận đồ đệ đều hết sức cẩn thận, chủ yếu là tư chất bẩm sinh lai lịch thân thế phải qua kiểm tra rõ ràng, để tránh khỏi bị đệ tử phái khác hỗn nhập trá học võ công. Mấy trăm năm qua cái kiểu đấu đá vừa công khai vừa ngấm ngầm này, người ta có thể chết bất cứ lúc nào, khiến cho nhân vật đầu não của các phái đều không dám lấy tuyệt học dạy cho đồ đệ, nhưng nhờ đó mà võ công các phái ngày càng tinh tiến, đáng tiếc chỉ là hai ba nhân vật đầu não thông suốt tinh yếu ấy, đại đa số đệ tử môn hạ chẳng qua chỉ học được chút bề ngoài mà thôi.

Nhất Đương Tử thở dài:

–        Dù có tuyển lựa truyền cho một đời đệ tử y bát, vẫn phải luôn thận trọng, tuyển rồi lại tuyển, từ trong trăm nghìn đệ tử mới tuyển ra môt…hai…người, khai đàn bái tổ. Trước tiên để cho bọn họ lập trọng thệ mãi bảo vệ sư môn xong mới chịu truyền cho tuyệt học. Hơn trăm năm qua, đời đời như thế, võ học của các phái từ sau khi ở Thiếu Thất tỷ kiếm, mặc dù tiến bộ vượt bậc, ngày càng tinh thâm, nhưng người lĩnh hội được thì lại rất ít.

Trừng Nhân đại sư vỗ tay ra vẻ thông suốt nói:

–        Hai chữ “danh tiếng” hại chết người mà.

Nhất Dương Tử lại thở dài:

–        Chỉ lấy phái Côn Lôn chúng ta mà nói! Lần đó, sau khi tỷ kiếm ở núi Thiếu Thất, trên mấy thế hệ trưởng lão tận dụng tâm huyết khổ tâm nghiên cứu, vừa sáng tạ ra Phân Quang Kiếm Pháp và Thiên Cương Chưởng Pháp. Trong Phân Quang Kiếm Pháp chỉ có Truy Hồn Thập Nhị kiếm là chủ yếu quan trọng, không được phép truyền thụ cho đệ tử. Hiện nay ở bản phái ngoại trừ ta và sư đệ muội ra, tìm kiếm đồng đạo khắp võ lâm thiên hạ cũng chỉ biết Phân Quang Kiếm Pháp của phái Côn Lôn ta có chín mươi sáu thức, toàn bộ gộp lại có một trăm lẻ tám chiêu, mười hai chiêu không được truyền cho đồ đệ đó thực sự là tinh túy nhất của toàn bộ kiếm pháp. Huynh đệ muội chúng ta có ước định với nhau, cần phải thông qua ba người sau khi đã thương lượng, tuyển chọn ra đệ tử y bát tài năng đem Truy Hồn Thập Nhị Kiếm truyền thụ cho hắn kế thừa bản phái, tuy nhiên ta đã thay đổi ý định, làm trái với ước ngôn của ba người chúng ta, quyết định đem Truy Hồn Thập Nhị Kiếm trao tặng cho Mộng Hoàn, hài tử này thiên tư thiên chất đều là chọn lựa tốt nhất, khó tìm được người khác như nó tuy thông minh cơ trí, nhưng tâm địa lại rất thành thực nhân hậu, mười hai năm qua đã học xong hết sở học của ta, nếu như học thêm cả Truy Hồn Thập Nhị Kiếm thì sư phụ ta đây cũng không còn bản lĩnh gì có thể truyền dạy cho nữa.

Trừng Nhân đại sư nghe xong ngẩn ra hỏi:

–        Tuy huynh có lòng yêu quý mà dạy riêng cho nó Truy Hồn Thập Nhị Kiếm, nhưng Côn Lôn tam tử các người đã có lời ước hẹn, sau này huynh làm sao ăn nói với sư đệ, sư muội đây?

Nhất Dương Tử phát ra tiếng cười to, âm thanh thật giống như long hổ gầm, chấn động bên trong đan thất khiến ngọn lửa đèn dao động. Trừng Nhân đại sư nghe tiếng cười đặc biệt dị thường của lão hữu, hình như có sự bi tráng cực độ, cũng có cả sự hoan lạc vô cùng. Lão hòa thượng nghe xong cau mày, còn chưa kịp cất lời, Nhất Dương Tử đột nhiên dừng tiếng cười lại nói rằng:

–        Sự tình tốt đẹp hay không chính ở bức Tàng chân đồ này, ngũ phái luận kiếm giữa chứng mà tan, thứ bậc chưa quyết, tuy tâm niệm chưa thôi, nhưng là Huyền Cơ Đạo Nhân dùng tài năng sau đó khuất phục cao thủ ngũ phái, trước khi đi lưu lại lời cảnh báo về đạo võ thuật, Vạn lưu quy tông, Hồng liên bạch ngẫu đều là người một nhà, tại sao bận tâm để làm nổi danh, tranh tiếng, tự tàn sát lẫn nhau. Ngày sau phái nào lại có ý muốn tỷ kiếm tranh danh, ông ta tuyệt không khoanh tay đứng nhìn, ông ta vốn có lòng thiện ý, nhưng chính vì thế mà ông ta lại gặp phiền phức.

Trừng Nhân đại sư mở lời hỏi:

–        Võ công của ông ta như vậy còn gặp phiền phức hay sao?

Nhất Dương Tử đáp:

–        Ở trong thiên hạ, không có gì là quá kỳ lạ, võ học thần kỳ của Huyền Cơ Chân Nhân nghe nói là từ trong một quyển quyền thư nhặt được, không có sư thừa, cũng không có người truyền dạy, lai lịch thân thế của ông ta cũng không có ai nhận ra được. Trước khi cửu phái tỷ võ ở ngọn Thiếu Thất Trung Nhạc, trên giang hồ cũng chưa từng nghe nói đến ông ta. Từ lần đó, sau khi dùng tài năng thu phục cao thủ ngũ phái, thanh danh vang dội khắp đại giang nam bắc, được võ lâm tôn sùng là võ công đệ nhất thiên hạ, cái tôn hiệu võ công đệ nhất thiên hạ này lại làm hai ông ta.

Trừng Nhân đại sư ngạc nhiên nói:

–        Tôn hiệu võ công đệ nhất thiên hạ làm thế nào lại hại ông ta được?

Nhất Dương Tử lắc đầu nói:

–        Người trong võ lâm nếu nội công võ học đã đến hồi biến hóa siêu phàm, thì coi phú quý, lợi lộc, trâu báu, đồ cổ như cặn bã rơm rác, đến mức vô ngã vô tướng, dẹp bỏ quan hệ tình thân, linh đài sáng rõ, nhưng đối với danh tự này luôn khó tránh thoát. Huyền Cơ Chân Nhân dùng sức hai bàn tay thu phục cao thủ ngũ đại tông phái, danh tiếng vang thiên hạ, cố nhiên đã tạm thời khuất phục ý muốn tranh danh của ngũ phái, tiêu diệt một trường sát kiếp, bảo lưu lại một chút nguyên khí tinh anh. Kỳ thực nói thẳng ra vẫn là vì tranh một cái danh tự. Tôn hiệu võ công đệ nhất thiên hạ của ông ta lại dẫn động tới tâm thế của một vị kỳ nhân cái thế thời đó. Người đó không chỉ là nữ nhân, hơn nữa còn là một đệ tử sa môn, pháp hiệu Tam Âm, Phật gia  giảng vô ngã vô tướng, vô sân vô niệm, thế nhưng bà ta lại khó lòng vứt bỏ sân niệm vô tự, ở năm thứ ba Huyền Cơ Chân Nhân chưởng phục cao thủ ngũ đại tông phái, vị Tâm Âm Thần Ni này vạn lý xa xôi từ A Nhĩ Thái Sơn xuất phát eimf tới Thanh Nham Quát Thương Sơn ở Chiết Tây, muốn cùng Huyền Cơ Chân Nhân so tài võ công. Ở Thanh Vân Nham bắt đầu một trường ác đấu quỷ thần kinh thiên động địa, võ công của hai người đã ở mức thần tiên, dốc sức đấu ba ngày ba đêm, qua lại với nhau hơn năm nghìn chiêu, nhưng vẫn không phân thắng bại, sang ngày thứ tư trở nên thừa thãi chắn ngắt, nội công tương hợp lại, trận đấu kết thúc, kết quả lưỡng bại câu thương, hai người đều bị thương nặng, ngồi đối diện nhau vận công điều tức, lúc đó hai người cùng hiểu rằng khó quay trở lại nhân thế, đại triệt hiểu ra sau đó hóa thù thành bạn, hai người lại cùng không có đệ tử, đem hết võ học tuyệt thế ghi chép lại thành ba quyển bí kíp, chôn giấu ở Quát Thương Sơn trong một tòa thạch động, đặt tên là Quy nguyên bí kíp, nêu lên ý nghĩa võ học thiên hạ, vạn lưu quy nhất tông, thiên biến bất ly kỳ tông ( muôn nẻo quy về một mối, nghìn biến hóa cũng không ngoài mối đó). Sau khi hoàn thành bí kíp, lại vẽ ra một bức Tàng chân đồ chôn giấu trên Thanh Vân Nham tại nơi hai người giao đấu, sự kiện này lưu truyền đến nay đã hơn ba trăm năm rồi, các môn phái võ lâm đều còn đang vắt óc tìm mưu kế, mong muốn được Quy nguyên bí kíp, còn các cao nhân hiệp ẩn bên ngoài môn phái, trên giang hồ một phường lục lâm đạo tặc cũng đều dốc hết toàn lực tìm kiếm bí kíp. Nghe nói trăm năm trước có một vị Đại Đạo Độc Cước trong giang hồ tìm được bức Tàng chân đồ này, thế nhưng thảm họa sát thân ập tới, quá nhiều người nhòm ngó đánh cướp Quy nguyên bí kíp, nhâm huynh võ công cao cường làm sao, chỉ cần bị người phong phanh nghe thấy, tất khó tránh khỏi thảm họa sát thân, Tàng chân đồ trải qua lưu lạc trăm năm, không biết đã hai bao nhiêu tính mạng con người, đến nay chưa nghe thấy Quy nguyên bí kíp bị người tìm được, không biết Thái Bang Hùng từ chỗ nào mà tìm được họa đồ này, có lẽ Thiên Nam Song Sát vì muốn đoạt Tàng chân đồ, đã truy đến Huyền Đô quán.

Dứt lời, lại là tiếng thở dài, trên mặt thần sắc buồn bã.


Trừng Nhân hỏi:

– Tàng chân đồ hiện đã rơi vào tay ngươi, ngươi chuẩn bị làm gì bây giờ, cũng muốn đi tìm nó (Quy nguyên bí kíp) ?

Nhất Dương Tử đáp:

– Ta đem Truy Hồn Thập Nhị kiếm dạy riêng cho đồ nhi, chính là chuẩn bị đem hai lão cốt đầu đây chôn vùi ở trong Quát Thương Sơn. Ba trăm năm qua sở dĩ các phái sống hòa bình với nhau, kỳ thực đều đang tập hợp toàn lực tìm kiếm Quy nguyên bí kíp, bất luận phái nào tìm được, sát kiếp võ lâm lập tức nổi dậy. Gần trăm năm qua phái Hoa Sơn độc chiếm một phương, Bát Tý Thần Ông Văn Công Thái tự mình tiếp phách chưởng môn hộ, lại là người tuổi trẻ tài cao, dần dần lớn mạnh. Đối với vụ tỷ kiếm nhục nhã ở Thiếu Thất không bao giờ quên. Phía bắc Thiên Long bang đột ngột xuất hiện, vài năm ngắn ngủi thế lực này đã tiến tới Giang Nam, Thiên Long bang chủ Lý Thương Lan cùng với thuộc hạ Hồng, Hoàng, Lam, Bạch, Hắc ngũ kỳ đàn chủ, vốn đều là kỳ nhân tựa ẩn phong trần, nhất động sân niệm, bỏ ra hơn mười năm không màng đến thân tu tịnh, thành lập Thiên Long bang, tuyển dụng cao thủ không môn không phái trên giang hồ, ý đồ ngoài cửu đại môn phái, hùng cứ một phương, thế cục giang hồ hiện nay nhìn có vẻ sóng yên bể lặng kỳ thực tình hình bên trong gươm đao sẵn sàng. Xem ra tỷ kiếm tranh định danh thứ lần thứ hai sắp sửa xảy đến. Quy nguyên bí kíp liên quan đến vận mệnh võ lâm sau này, vạn nhất người xấu đoạt được, hậu quả bi thảm thật khó tưởng tượng, để làm rõ ảnh hưởng này, ta phải bỏ sức một phen lên Quát Thương Sơn, thành hay bại cũng không biết được, bất quá việc này một mình ta không đủ sức làm, cố tình mời ngươi cùng đi, thế nhưng hòa thượng ngươi đây tự cho mình thanh cao không biết có muốn đến nơi phong hiểm này hay không? ta cũng không có cách nào khác cưỡng ép ngươi đến đó cả, chờ ta truyền cho Hoàn nhi Truy Hồn Thập Nhị kiếm xong rồi sẽ đi, hiện tại nghe ngươi nói một câu, có muốn đi hay không?

Trừng Nhân đại sư cúi đầu trầm ngâm rồi nói:

– Từ nay trở đi thế sự có liên quan đến kiếp vận võ lâm, lão hòa thượng tự biết khó mà thối thác, lại nói ta sống hơn sáu mươi năm, sinh tử đã qua chẳng có gì phải tính toán cả, chỉ là Hà Lâm hài tử này ta không yên lòng, cô nhi không nơi nương tựa, thân lại mang huyết hải thâm cừu…

Trừng Nhân đại sư nói đến đứa trẻ này, Nhất Dương Tử mỉm cười nói tiếp:

– Chuyện của Lâm Nhi ta có thể thay ngươi trù tính, nếu ngươi để nó đầu nhập vào phái Côn Lôn, để ta viết thư dẫn tiến làm môn hạ Tuệ Chân Tử sư muội của ta. Thiên Nam Song Sát thất bại bị thương bỏ chạy, tin về Tàng chân đồ sẽ bị lộ ra, tình thế Huyền Đô quán khó mà ở lâu, chẳng đến một tháng ắt có người tìm lên đến cửa, còn chúng ta nên rời đi tất nhiên để hai đứa hài tử này ly khai trước.

Trừng Nhân đại sư cười nói:

– Nó có thể đầu nhập làm môn hạ Côn Lôn, rất là may mắn, lão hòa thượng cốt vùi ở Quát Thương Sơn, chết cũng không hối tiếc, được lời nói ở trên không thể tốt hơn, thân thế Hà Lâm liên quan đến một vụ ân oán cừu sát trên giang hồ, mẫu thân nó lúc lâm tử có lưu lại huyết thư, sau khi sống tốt và trưởng thành sẽ tự tay đâm chết nguyên hung, sự việc này ta không thể giấu diếm nó suốt đời được, chắc chắn sẽ để nó biết, mối thù của phụ mẫu bất cộng đái thiên, tương lai nếu có gây ra rắc rối cho phái Côn Lôn các ngươi, cũng chớ có trách ta trước đó không có nói rõ.

Nhất Dương Tử nghiêm mặt hỏi:

– Trầm cô nương có phải là nữ nhi của Lam Y Tú Sĩ Trầm Sĩ Lãng không?

Lão hòa thượng biến sắc nói:

– Làm thế nào ngươi…biết chuyện này?

Nhất Dương Tử thở dài nói:

– Mười lăm năm trước phu phụ Trầm Sĩ Lãng bị sát hại một cách bí mật, trên giang hồ sớm có đồn đãi, bất quá ta khuyên ngươi tốt nhất đừng để nó biết thân thế, Bách Bộ Phi Bạt Tề Nguyên Đồng bức hại đến chết phu phụ Trầm Sĩ Lãng đã đầu nhập vào Thiên Long bang, hiện nắm quyền Hồng kỳ đàn, báo thù sự việc này chỉ có chờ đợi cơ duyên, không được vọng động, ngươi nói cho nó biết sớm là hại nó.

Trừng Nhân đại sư từ mi kéo dài, hai mắt thần quang chớp động, nói tiếp:

– Nói như vậy, chỉ có lão hòa thượng ta đứng ra thay nó đấu với Tề Nguyên Đồng rồi.

Nhất Dương Tử nói sâu xa:

– Ngươi đấu với Tề Nguyên Đồng, ta tin ngươi không đến nỗi thất bại, vấn đề ở Thiên Long bang người đông thế mạnh, Hải Thiên Nhất Tẩu Lý Thương Lan, đích xác là quái tài kiệt xuất trong võ lâm gần đây, ngươi có lẽ nghe nói tới chuyện ông ta nhất quải phục Tứ Xú rồi chứ! Trung Xuyên Tứ Xú vốn là lãnh đạo đám lục lâm tại Ngạc, cũng được coi là nhân vật không dễ trêu chọc, đệ tử ba phái Võ Đang, Nga Mi, Thanh Thành, nhiều lần bao vây tiêu diệt đều không thành, vì lý do này còn bị thương nhiều cao thủ nữa, Lý Thương Lan đi ngang qua Tây Ngạc, vô tình gặp phải Tứ Xú, chỉ trong một đêm đã khuất phục bốn tên ma đầu, đánh bọn họ thu nhập vào Thiên Long bang, chuyện này ba năm trước đây từng được nhiều người biết đến trong võ lâm trung nguyên, xét tình thế hiện tại, vẫn cứ tiếp tục phát triển, vị thế của Thiên Long bang hơn hẳn cửu phái trên, nếu như đánh giá của ta chính xác, nội trong mười năm võ lâm có thay đổi lớn, có thể tinh anh các phái đều bị hủy hoại ở trong lần hạo kiếp này, chuyện báo thù của Trầm cô nương, hà tất phải gấp rút, nó đã gia nhập môn hạ Côn Lôn, tam tử Côn Lôn chúng ta tất nhiên sẽ không ngồi xem.

Lão hòa thượng than thở thật dài, nói:

– Đáng lẽ ta đã là người vứt bỏ thế giới trần tục rồi, bởi vì dây dưa một chút ân oán này của Lâm nhi, nên không có cách nào thoát khỏi, xem lại chỉ muốn tung hê tất cả, nghĩ được như thế nhưng nói dễ hơn làm, không thể tránh né trần thế, còn nói trôi dạt thế ngoại cái gì, ngay lập tức ta trở về Già Dương tự, chuẩn bị một chút, lão hòa thượng nếu như chết ở Quát Thương Sơn, dù sao cũng không thể để Già Dương tự không có phương trượng trụ trì, ba ngày sau ta trở lại Huyền Đô quán, nhân cơ hội lấy Thập Bát La Hán Chưởng ta để dưới đáy hòm, truyền lại cho đồ đệ của ngươi mấy chiêu cuối cùng.

Nói xong nhanh chóng rời đi, hai ống tay áo rộng thùng thình giũ tung lên, người đã rời khỏi đan thất rồi, giống như cự điểu lăng không mà đi. Ba ngày sau Trừng Nhân đại sư quả nhiên lại tới, chỉ hơn là có một cây thiền trượng trong tay, thời gian nửa tháng một tăng một đạo đem Truy Hồn Thập Nhị kiếm và Thập Bát La Hán Chưởng truyền thụ cho Dương Mộng Hoàn.

Bởi vì mười hai Truy Hồn kiếm đó là chiêu số tinh diệu nhất trong phái Côn Lôn, Trầm Hà Lâm khi chưa bái làm môn hạ Côn Lôn, tất nhiên Nhất Dương Tử không thể truyền thụ. Thập Bát La Hán Chưởng Trầm cô nương đã học được từ lâu, sở dĩ trong nửa tháng này vẫn còn rất bận rộn là một người Dương Mộng Hoàn, ban ngày tập chưởng buổi tối luyện kiếm, Truy Hồn Thập Nhị Kiếm tuy chỉ có mười hai chiêu thức, nhưng lại phức tạp dị thường, một chiêu đánh ra, phía sau mười một chiêu biến hóa đều ẩn ở trong một chiêu đó, Dương Mộng Hoàn học nửa tháng rồi, coi như là miễn cưỡng học được.

Nhất Dương Tử vội vã muốn đi đến Quát Thương Sơn, không có thời gian để đợi đồ nhi luyện kiếm thuần thục, nên gọi Mộng Hoàn và Hà Lâm vào đan thất, lấy ra hai phong thư, giao cho Mộng Hoàn nói:

– Con theo ta đã mười hai năm rồi, cũng nên về nhà một chuyến thăm cha mẹ, sau khi thăm hỏi xong không cần trở lại Huyền Đô quán tới tìm ta nữa, cầm phong thư này đưa lên kim đỉnh phong Tam Thanh Cung núi Côn Lôn, giao cho hai vị sư thúc của con mở ra đọc.

Dương Mộng Hoàn đón nhận thư, phục bái ở đan thất, mười hai năm tình cảm thầy trò như biển cả, biệt ly trong một ngày, không khỏi vượt qua đau khổ, phủ phục dưới đất lệ rơi lã chã. Nhất Dương Tử cười mắng:

– Thiên hạ không có lễ tiệc nào là không tàn, bộ dạng khóc lóc của con thế này, sao có khí khái trượng phu, mau đứng lên đi!

Dương Mộng Hoàn buộc phải đứng lên, nghiêm chỉnh đứng yên một bên. Trừng Nhân đại sư vuốt nhẹ mái tóc Hà Lâm nói:

– Sư bá Nhất Dương Tử của con thương con mồ côi không nơi nương tựa, đã chuẩn bị đưa con vào môn trường Côn Lôn, lúc này đi bái sư ở Kim Đỉnh Phong, phải chuyên tâm học tập võ công mới được.

Nói qua mấy câu lông mày nhíu lại thần sắc âm trầm. Trầm Hà Lâm nghe được ngẩn ra, hai con mắt to mở tròn hai vành mắt tuôn ra lệ thủy hỏi;

– Thế nào sư phụ không cần Lầm nhi nữa sao?

Trừng Nhân đại sư miễn cưỡng cười nói:

– Con có thể bái làm môn hạ Côn Lôn, là may mắn rất lớn, làm sao hài tử đã lớn như thế này, ngay cả một chút thói đời cũng đều không hiểu.

Hà Lâm lại hỏi:

– Như vậy Lâm nhi phải một mình đi lên núi Côn Lôn sao?

Nhất Dương Tử mỉm cười nói tiếp:

– Dương sư huynh đi cùng với con.

Tiểu cô nương vừa nghe nói Mộng Hoàn đi cùng, mở miệng mỉm cười rồi mím lại ngay, đứng một bên không nói lại câu gì. Nhất Dương Tử từ trong tay Trừng Nhân đại sư tiếp nhận một cái tiểu bao bạch bố, giao cho Mộng Hoàn:

– Vật đó phải cất thật kỹ, giao tận tay cho sư thúc con.

Dương Mộng Hoàn tiếp nhận cất vào trong ngực, Nhất Dương Tử lại phân phó:

– Sau khi con về đến nhà, có thể lưu lại một tháng, rồi lại đi đến Kim Đỉnh Phong Tam Thanh Cung núi Côn Lôn, trên đường đi phải chiếu cố tới Trầm sư muội.

Dương Mộng Hoàn khom người đáp ứng, Nhất Dương Tử lập tức giục hai người động thân đăng trình, buổi chiều cùng ngày hai người đã ly khai Huyền Đô quán.


Dương Mộng Hoàn và Trầm Hà Lâm đi rồi không lâu sau trong quán chỉ có mấy người Nhất Dương Tử gọi vào đan thất. Huyền Đô quán quy mô tuy lớn nhưng hương hỏa không thịnh, ngoại trừ mùa hoa đào nở rộ thỉnh thoảng có khách nhân đến đây thưởng ngoạn bên ngoài, bình thường có rất ít người đến đó. Trong quán ngoại trừ thầy trò Nhất Dương Tử và Dương Mộng Hoàn ở bên ngoài ra, cũng chỉ có bốn năm đạo nhân chuyên việc hương hỏa, Huyền Đô quán chủ nói vài câu phân công giao việc cho mấy người đạo nhân hương hỏa, lập tức cùng       Trừng Nhân đại sư phiêu nhiên đi thẳng đến Quát Thương Sơn ở Chiết Nam.

Lại nói Dương Mộng Hoàn và Trầm Hà Lâm bái biệt Nhất Dương Tử cùng Trừng Nhân đại sư rời khỏi Huyền Đô quán, ngồi thuyền nhỏ trôi theo sông Nguyên mà đi, khúc sông này hẹp, nước chảy mạnh, thuyền nhỏ lao như tên bắn, Dương Mộng Hoàn cầm tay đà ngồi ở sau đốc lái thuyền, cúi đầu nhìn mấy cánh hoa đào đang chìm nổi theo sóng trên mặt sông, Trầm Hà Lâm đứng bên cạnh chàng, nhìn lại vạn chu cây đào dần dần xa khuất, trên mặt phủ nhẹ một phần tiếu ý, trong viền mặt hàm chứa hai nịch nước mắt, tựa như vui thích vô cùng, cũng tựa như thấy bi thương vô cùng.

Cho đến khi thuyền vượt qua Gia Khê, cảnh quan Huyền Đô quán biến mất hoàn toàn, cô mới chậm quay đầu nhìn Dương Mộng Hoàn hỏi:

– Dương sư huynh, anh đã đến núi Côn Lôn chưa?

Dương Mộng Hoàn lắc đầu đáp:

– Mười hai năm qua, ngoại trừ sư phụ dẫn ta về qua nhà hai lần, chỉ ở ngoài nhìn thăm cha mẹ, chứ chưa bao giờ rời khỏi Huyền Đô quán.

Trầm Hà Lâm: Vậy à! rồi ngồi xuống sát bên cạnh hắn nói:

– Lúc còn nhỏ chưa hiểu chuyện, ta đã được sư phụ đừa về Già Dương tự, mười mấy năm ngoại trừ Già Dương tự và Huyền Đô quán, ta chưa từng đi qua địa phương nào khác, sư phụ lại chẳng chịu nói cho biết thân thế của ta. Ta nghĩ cha mẹ của ta nhất định là không cần ta nữa nếu không bao nhiêu năm qua đến giờ bọn họ vì sao không đến thăm nữ nhi của mình?

Nói chuyện, ngẩng cao đầu nhìn bầu trời, mây trắng trôi lững lờ, hai hàng lệ châu lăn xuống.

Thuyền như tuấn mã, kình phong quất vào mặt, Trầm cô nương u hương phảng phất trên người, Dương Mộng Hoàn đối diện với người ngọc, cảm khái muôn vàn, nhìn vẻ mặt của nàng ưu tư phiền muộn, không khỏi động tâm, rất muốn khuyên giải an ủi vài câu, lại không biết bắt đầu nói từ đâu mới được, nhất thời ngớ ra một lúc, nói không ra một câu nào cả.

Trầm Hà Lâm cúi đầu chầm chậm, tự nhiên trông thấy bộ dáng ngây người của Dương Mộng Hoàn, không khỏi cả kinh vội vã nói rằng:

– Dương sư huynh! Ta nói sai rồi à?

Dương Mộng Hoàn đầu tiên ngẩn ra, sau đó mỉm cười nói:

– Không có

– Vậy anh vì sao xuất thần ngây người ra đó.

– Ta muốn an ủi khuyên giải cô mấy câu, thế nhưng không biết nói cái gì cho phải.

Hà Lâm thản nhiên cười, che giấu khuôn mặt u sầu, dùng ống tay áo xóa đi vết ngấn lệ trên mặt, đưa tay cầm lấy trụ đà nói:

– Nghỉ ngơi một lúc! để ta cầm lái cho.

Dương Mộng Hoàn không đành lòng phụ hảo ý của nàng, nhường cho nàng. Sắc trời sớm vào lúc hoàng hôn, đã vào trong Động Đình hồ, nhìn cảnh khói sương bao phủ khắp vùng, phản chiếu hàng nghìn cánh buồm của ngư thuyền đậu trong hồ. Khói bếp lượn lờ trong ráng chiều, các nữ ngư dân mặc bố y để chân trần, ngồi đầu thuyền vừa khâu lưới vừa chuyện trò vui vẻ. Trầm Hà Lâm được chứng kiến qua cảnh vật như này, mặt mày hớn hở, cổ tay ngọc đong đưa mái chèo, luồn lách xuyên qua khu vực ngư thuyền đông nhất, cô nhìn mọi người, ánh mặt mọi người cũng đều tập trung tới trên người nàng. Thấy một tiểu cô nương xinh đẹp duyên dáng, lực tay mạnh mẽ đưa đi đưa lại khua chèo rẽ sóng lướt nhanh như bay. Khi còn nhỏ Trầm cô nương được Trừng Nhân đai sư đưa vào Già Dương tự, tiếp xúc với người đời rất ít, tâm thuần khiết như ngọc. Mắc dù ngàn vạn ánh mắt cùng tập trung vào nàng, nhưng nàng lại không mảy may sợ hãi, vẫn tiếp tục khua chèo khoát nước, luồn lách xuyên qua đám ngư thuyền mà đi.

Bỗng nhiên xuất hiện hai chiếc thuyền máy, phân trái phải lao đến với tốc độ cao, thẳng hướng áp chế tiểu thuyền của Trầm Hà Lâm và Dương Mộng Hoàn. Tiểu cô nương đang chơi đùa vui vẻ, mắt thấy thuyền máy bên phải sắp đụng vào tiểu thuyền, không kịp đề phòng, Dương Mộng Hoàn vươn mạnh cánh tay phải, đơn chưởng nhanh đón tới thuyền máy, ngầm vận chân lực, chống đỡ rồi hất ra, chiếc thuyền máy bị một lực hất ra, xoay quanh nghiêng sang một bên. Trầm Hà Lâm thấy nguy, cổ tay phải ráng sức khua mái chèo, tạo nên một vùng bọt nước, tiểu thuyền đột ngột bật ra xa tám thước, nứt ra một đạo thủy ngân, tránh ra bên trái thuyền máy. Nghe thấy trên thuyền máy truyền tới mấy trần cười nhạt rẽ sóng như bay đi.

Trầm Hà Lâm mắt thấy hai chiếc thuyền máy bỏ chạy, càng nghĩ càng cảm thấy phẫn nộ, chuyển qua đầu thuyền định đuổi theo, Dương Mộng Hoàn cúi người lại nói:

– Quên đi, thuyền của họ chạy nhanh chúng ta không đuổi kịp đâu.

Trầm Hà Lâm ngỡ ngàng hỏi:

– Chúng ta đâu có trêu chọc bọn họ, vì sao bọn họ lại lại bắt nạt chúng ta thế?

Dương Mộng Hoàn trờ mắt thừa nhận không thể trả lời được câu hỏi này. Vì sao? Ngay cả mình cũng không rõ nốt, ngẩn người đáp:

– Ta thường nghe sư phụ nói, giang hồ không có chuyện gì là quá kỳ lạ, ở đây cũng không giải quyết được việc gì cả, chúng ta đi thôi.

Hà Lâm gật đầu cười, căng buồm lên hỏi:

– Hoàn ca ca chúng ta đi đâu đây?

Dương Mộng Hoàn nghe nàng càng gọi càng thân mật, rõ ràng từ Dương sư huynh đã biến thành Hoàn ca ca, không khỏi ngây người ngẩn ngơ, nghĩ thầm: ” coi bộ cô ấy đối với mình tình ý ngày càng sâu đậm, sư phụ bảo mình chăm sóc cô ấy cho tốt, trong lời nói hàm ý sâu sắc, vị tiểu sư muội này vốn trời sinh tính vô cùng khả ái bướng bỉnh, ngay cả sư phụ Trừng Nhân đại sư của cô ấy còn không sợ, đối với mình tuy là sống nhân nhượng, có chút nào không chịu tuân theo, thế nhưng ta chỉ có thể xem như tình bạn, chắc chắn sẽ không xứng đáng với mối tình thâm của nàng…trong tâm chàng nghĩ như thế. Ngẩng đầu thấy Hà Lâm đang cúi đầu nhìn chàng, vô vàn tình ý trong đôi mắt đẹp, sầu não thấp giọng đáp:

– Đi về phía đông, vào đêm nay nếu như thuận gió, ngày mai có thể đến nhà của ta rồi.

Trầm Hà Lâm chuyển đà giương buồm, tiểu thuyền rẽ sóng tiến về phía đông, nàng lại ngồi xuống đối diện với Mộng Hoàn, cau mày hỏi:

– Hoàn ca ca, trong nhà anh có những ai? không biết bá mẫu gặp ta rồi có thích ta không? ta từ nhỏ không được cha mẹ quản giáo, đã biến thành một a đầu lỗ mãng mất rồi.

Dương Mộng Hoàn hơi run run, thờ ơ đáp:

– Mẹ của ta rất nhân ái, bà nhất định sẽ thích cô!

Hà Lâm đôi chân mày nhướng lên cười:

– Thật muốn như vậy, ta sẽ trở nên ngoan ngoãn không để bà phải mất vui.

Nói chuyện mặt thỏa mãn tươi cười, quay người tựa xuống thành thuyền nghịch nước, Dương Mộng Hoàn chỉ cảm thấy trong lòng tỏa ra ý nghĩ lạnh cả người.

Động Đình hồ tổng cộng dài hơn ba trăm dặm, sóng nước xanh biếc trong như gương, mênh mông vô cùng, cánh buồm phần phật, thuyền đi bập bềnh, Trầm Hà Lâm vui vẻ thoải mái, phóng tầm mắt chung quanh, ngư thuyền như thoi đưa giữa hoàng hôn mênh mông, không ít trên thuyền đã dấy lên ánh đèn, chợt sáng chợt tối, như trăm nhìn vạn ánh đom đóm múa trên không, Dương Mộng Hoàn lại không có ý chiêm ngưỡng cảnh hoàng hôn trên hồ, ngồi ôm đầu gối ở mũi thuyền, cảm xúc cuộn trào mãnh liệt, phập phồng bất định.

Bỗng nhiên, một chiếc thuyền lớn có hai cột buồm đi đến, rất nhanh đã đuổi đến gần tiểu thuyền của Dương Mộng Hoàn và Trầm Hà Lâm, song song bên phải lại có bốn chiếc thuyền máy lướt nhanh tới, Trầm Hà Lâm từ trong khoang thuyền lấy ra hai thanh bảo kiếm, một thanh đưa cho Mộng Hoàn, nói:

– Hoàn ca ca, anh xem bọn chúng lại tới nữa rồi, lần này phải dạy cho bọn chúng một bài học, nếu không bọn chúng còn tưởng chúng ta dễ bị hà hiếp đến vậy?

Trong lúc Hà Lâm nói, bốn chiếc thuyền máy đã triển khai dàn thành một hàng, ngăn ở phía trước tiểu thuyền, mỗi chiếc thuyền máy đều có một đại hán ăn mặc gọn gàng đứng ở đầu thuyền, Dương Mộng Hoàn cũng có một chút liều lĩnh, tiếp nhận trường kiếm trong tay Trầm cô nương, cười lạnh một tiếng, hỏi:

– Dương mỗ và các vị không quen biết, chúng ta lại không phải la thương nhân buôn bán giàu có, các vị khổ công như vậy là vì cái gì chứ?

Phía bên tay trái trên chiếc thuyền máy thứ hai, một đại hán khoảng bốn mươi tuổi cười đáp:

– Nhị vị nếu như là phú thương hành lữ thì chúng ta tội gì phải lao sư động chúng như vậy, xin hỏi người bằng hữu một tiếng, cùng Huyền Đô quán chủ Nhất Dương Tử xưng hô như thế nào?

Dương Mộng Hoàn biến sắc, lớn tiếng đáp:

– Huyền Đô quán chủ là ân sư của ta! Các người muốn thế nào?

Đại hán đó lại cười nói:

– Nhất Dương Tử lão tiền bối uy chấn giang hồ, đối với người đệ tử của lão nhân gia như thế nào, chúng ta còn không dám, bất quá tổng đà chủ của chúng ta từ lâu nghe tiếng kiếm thuật của phái Côn Lôn vô địch thiên hạ, muốn nhân cơ hội cùng hai vị kết giao bằng hữu!

Dương Mộng Hoàn thấy hắn nói lời rất khách khí, trong lúc nhất thời cũng không có cách nào phát tác, mặt nhăn mày kiếm hạ xuống đáp:

– Dương mỗ vì mới rời sư môn, không hiểu quy củ trên giang hồ, quý tổng đà chủ đã nguyện nhún mình kết giao, Dương Mộng Hoàn cũng đành phải bái kiến.

Đại hán kia gật đầu nói:

– Cao túc đại hiệp, thật là bất phàm, Dương huynh có vẻ không giống như sơ thiệp giang hồ, tổng đà chủ của chúng ta không dám làm phiền đại giá, ông ấy đã đích thân đến đây rồi!

Đại hán kia vừa nói chuyện, đưa ngón tay chỉ sang bên phải, Dương Mộng Hoàn quay đầu nhìn theo, chỉ thấy trên chiếc thuyền lớn hai cột buồm, cửa khoang thuyền mở rộng ra, bên trong đèn sáng rực rỡ, rọi sáng như ban ngày, bên ngoài cửa khoang thuyền bốn đại hán vạm vỡ đứng đối diện nhau, toàn bộ mặc trang phục áo thân đối màu xanh gọn gàng với hàng khuy dày, thắt lưng màu trắng, trước ngực ôm một thanh quỷ đầu đao sống dày lưỡi mỏng, trung tâm khoang thuyền một người thân hình cao lớn xấp xỉ ngũ tuần trường tu (râu dài) bạc phơ ngồi trên ghế kim giao da hổ, chắp tay cười nói:

– Vô cớ chặn thuyền, lo sợ không yên, thỉnh qua khoang thuyền uống chén rượu nhạt, để ta tạ tội thất lễ!

Theo tình hình ấy, Dương Mộng Hoàn tự nhiên khước từ không được, quay đầu lại khẽ nói với Hà Lâm:

– Đeo bảo kiếm lên, chúng ta cùng sang một lượt.

Nói xong, nhảy lên đầu thuyền lớn trước tiên, Trầm cô nương cũng hạ xuống theo sát ở phía sau Mộng Hoàn.

Trường tu lão giả nhìn mấy đại hán trên bốn chiến thuyền máy:

– Các ngươi trông giữ đội thuyền của khách nhân, nếu như có chút hư hại nào, đừng có gặp mặt ta!

Bốn đại hán đưa tay trước ngực khom người đối với lão giả, thuyền máy lập tức tản ra, Trường tu lão giả chỉ quay đầu lại đối với Dương Mộng Hoàn nói:

– Thuộc hạ không biết, mở lời đắc tội, xin chớ chê trách, trong khoang thuyền đã chuẩn bị rượu nhạt, mời vào trong uống mấy chén thế nào?

Dương Mộng Hoàn xá dài đáp

– Vãn bối mới ra giang hồ, không hiểu quy củ, được mời uống rượu, may mắn như vậy, bạo dạn thỉnh giáo tôn danh thượng tính của lão tiền bối, để tiện việc xưng hô?

Lão giả nọ tay vuốt trường tu cười ha ha :

– Hai mươi năm trước lão hủ và Nhất Dương Tử có duyên gặp mặt một lần, chấp nhận lời đề nghị tương trợ của ông, ta mới sống được hơn mấy chục năm đến giờ, chúng ta uống mấy bôi trước,  sau đó ta còn có việc thỉnh giáo.

Ôm quyền kính khách.

Dương Mộng Hoàn bước vào trong khoang thuyền, bốn người đại hán khom mình hành lễ, xem trong khoang thuyền trang trí vàng son lộng lẫy, hoa lệ vô cùng, một bàn bát tiên bằng gỗ đàn hương đỏ chạm trổ hoa ngọc, đã sớm dọn ra trà thơm và một ít đồ ăn lót dạ. hai tên thanh y đồng tử khoanh tay đứng hầu một bên, Trường tu lão giả để Mộng Hoàn và Hà Lâm ngồi yên vị xong, nhìn Trầm cô nương cười nói:

– Vị cô nương này cũng là đệ tử môn hạ của Côn Lôn sao?

Hà Lâm đại nhãn chớp một cái đáp:

– Không phải thế nào! Ta và Mộng Hoàn ca ca đều không thể uống rượu, ông muốn nói cái gì thì nói nhanh lên nói xong chúng ta còn phải tranh thủ đi nữa.

Dương Mộng Hoàn nghe được chau mày, Trường tu lại vuốt râu cười to nói:

– Được! Cô nương chất phác thẳng thắn, có thể xem là cân quắc hiệp phong, nhị vị đi đến nơi nào, ta thuận tiện phụng tống đoạn đường, như vậy cũng không làm chậm trễ việc lên đường của nhị vị, lại có thể nói chuyện suông trong đêm trường.

Dương Mộng Hoàn tiếp lời đáp:

– Chúng ta chuẩn bị ở Nhạc Dương trên bờ, chỉ là không dám làm phiền đại giá.

Trường Tu lão giả lắc đầu cười:

– Một đêm dong buồm, có là gì đâu.

Nói qua lời phân phó với bốn người đại hán ôm đao ở ngoài cửa khoang thuyền, treo đôi buồm phóng thẳng Nhạc Dương, lại lệnh cho hai tên thanh y đồng tử thu dọn trà bánh, thay rượu và thức ăn, cùng Mộng Hoàn, Hà Lâm bắt đầu đối ẩm.

Dương Mộng Hoàn và Trầm Hà Lâm đều không thể uống rượu, uống mấy chung rồi ngừng chén không ăn, Trường tu lão giả cũng không miễn cưỡng, cứ một mình uống đến cạn chén, uống liên tiếp đã ngoài trăm chén, mới để chén trên xuống, cùng Mộng Hoàn nói ít tin tức lạ lẫm trên giang hồ, tránh không đề cập tới vấn đề chính sự, Dương Mộng Hoàn nhịn rồi lại nhịn, đến lúc cuối cùng nhịn không được hỏi:

– Lão tiền bối mời vãn bối đi thuyền, từng nói qua có chuyện cho biết, hiện đã cơm no rượu say, nguyện lắng nghe lời dạy?

Trường Tu lão giả thở dài nói:

– Lệnh sư đối với ta có ân cứu mạng, hai mươi năm tự thẹn chưa một lần báo đáp, mấy ngày trước đã đồn đãi lệnh sư đắc được võ lâm kỳ bảo Tàng chân đồ, điều đó dẫn đến cao thủ các phái tập hợp ở Tương Bắc, tin đồn mới truyền đi, người tới sau đó không ít, đại khái trong mấy ngày này ở trên ba miền sông nước sắp bắt đầu một trận phong ba tranh đoạt Tàng chân đồ, đã vì bức họa đồ này, trăm năm qua không biết đã chôn vùi bao nhiêu tính mạng cao nhân võ lâm, cừu sát ân oán giang hồ, thường dây dưa tính sang cả đời sau, ngươi vì là đệ tử của Côn Lôn, khó tránh khỏi bị dây dưa, chân tướng sự việc ra làm sao, ta cũng không dám chắc, thật không dám giấu diếm, lão hủ cũng là vì Tàng chân đồ phụng mệnh mà tới, nhị vị sớm rời xa nơi thị phi, chắc chắn thượng sách, lệnh sư một đời kiếm hiệp, tất có sự chuẩn bị , bất quá nhị vị ngày sau có đi lại, ứng cầu cẩn thận, đừng có khoa trương tài năng mà để lộ mình, không nghi ngờ gì là tự tìm đến phiền não, giang hồ xảo trá, một lời khó nói, vì cầu đạt mục đích, thủ đoạn của bọn họ thảm độc vô cùng. Ta có thể phụng cáo nhị vị cũng chỉ thế này.., lần sau gặp mặt chúng ta là bạn hay địch khó lường trước. Ta tiễn nhị vị đoạn đường này, chưa nói tới báo đáp ân đức của lệnh sư, chỉ có thể tính trò chuyện biểu hiện chút tình, nếu như không phải cơ hội đúng lúc, bị thuộc hạ của ta phát hiện hành của tung hai vị trước tiên, mà lọt vào mắt kẻ khác, không những làm tăng thêm sự  phiền phức cho lệnh sư mà hai vị còn phải chịu khổ sở nữa.

Được nghe buổi nói chuyện của Trường Tu lão giả Dương Mộng Hoàn vừa sợ vừa khẩn trương, nhớ lại biểu hiện của ân sư nửa tháng gần đây xác thực khác thường, nói vậy với miếng lụa trắng được tìm thấy trên người sư huynh Thái Bang Hùng đã chết kia có liên quan…lại nhớ thần sắc sư phụ lúc bảo Hà Lâm và mình ly khai Huyền Đô quán, tựa như rất gấp rút, trước là nhớ lại sau là nghĩ, chuyện này tám thành là thật, ngẩng đầu nhìn thấy Hà Lâm đang mở to mắt nhìn theo ông ta, trên mặt thần sắc hoang mang chẳng hiểu gì cả, như thể cô ta đem tất cả phúc họa thậm chí tin cậy gửi gắm ở trên người mình.

Dương Mộng Hoàn suy nghĩ một hồi, mày kiếm dãn nhẹ, vẻ mặt nhìn kiên nghị, cười nói:

– Được lão tiền bối yêu quý mà bảo hộ như thế này, Dương Mộng Hoàn khắc sâu trong lòng, việc gia sư có đắc được Tàng chân đồ hay không, vãn bối thật sự không biết, xin thứ không thể phụng cáo, cao thủ các phái tập hợp ở Tương Bắc, chuẩn bị đối phó với gia sư và vãn bối, đó là chuyện của họ, vãn bối tuân theo lời giáo huấn của ân sư, vốn không có lòng phạm người, nhưng đệ tử môn hạ phái Côn Lôn, cũng không phải là người tham sống sợ chết, sự tình nếu như bức bách đến cùng thì ngay cả là núi đao biển kiếm, vãn bối cũng không ở đó mà sợ hãi, lão tiền bối phụng mệnh đến đây, theo đuổi Tàng chân đồ, giữ vãn bối cùng ở trên thuyền dạ đàm e có điều bất tiện, bây giờ ta phải cáo từ rồi.

Đứng dậy vái chào cùng Hà Lâm đi ra ngoài khoang thuyền.

Bỗng nghe Trường tu lão giả cười lớn tiếng nói:

– Nhất Dương Tử hào khí ngút trời, Dương lão đệ tận thừa sư phong, môn hạ Côn Lôn quả thật bất phàm, lão hủ rất ngưỡng mộ, khó có được một đêm thanh đàm, vì sao lại quyết định ra đi, thuận gió giương buồm, trước bình minh có thể đến được Nhạc Dương, từ biệt đêm nay, ngày sau địch bạn khó phân, chúng ta nếu có cơ hội gặp lần nữa, nói không chừng ta muốn lãnh giáo Phân Quang Kiếm Pháp của lão đệ, vô luận như thế nào mời hai vị chịu để lão hủ đưa tiễn đoạn đường, cũng để cho ta bày tỏ một chút tâm ý…

Nói đến đây thì dừng lại, trường tu giật giật, sắc mặt thê lương, tựa như có điều gì đó vô cùng thương cảm.

Dương Mộng Hoàn biết trong lòng ông ta lúc này chật vật lắm rồi, muốn báo đáp ân cứu mạng năm đó của sư phụ lại không thể nghịch mệnh hành sự, nhìn vẻ mặt thống khổ của ông ta, cảm thấy bất nhẫn kiền trì một chút, mỉm cười quay trở vào khoang thuyền, ngồi xuống nói:

– Lão tiền bối tận tình lưu khách, chúng vãn bối đành phải làm phiền, trong võ lâm ngẫu nhiên được trợ giúp vốn thuộc việc nhỏ tầm thường, lão tiền bối hết lòng vì chút ân huệ tương trợ năm đó của gia sư, mà tiến thoái lưỡng nan, hơn nữa chính lão tiền bối tin tưởng không hỏi việc Tàng chân đồ, thì người khác cũng sẽ không bỏ qua cho thầy trò vãn bối, bất quá Tàng chân đồ này có thật rơi vào tay gia sư hay không, vãn bối đích xác chưa nghe gia sư nói qua!.

Trường Tu lão giả thở dài nói:

– Dương lão đệ kiến thức bất phàm, mấy câu nói xác thực không phải là người bình thường có thể nói ra, lão hủ lại có may mắn thấy được đại trượng phu hiếm có trên đời…

– …Bất luận như thế nào, lão hủ vẫn luôn thẹn với lệnh sư, Thiên Long bang quy lệnh nghiêm cấm, người đến không chỉ một mình lão hủ, hai vị hãy bảo trọng!

Nói xong, bưng chén rượu trên bàn lên uống một hơi cạn sạch.

Lúc sau, hai người đều không nhắc lại chuyện Tàng chân đồ, ngồi đối diện dưới ánh sáng đuốc nói hết một chút chuyện lạ trên giang hồ, Trầm Hà Lâm ngồi bên cạnh Mộng Hoàn, lúc thì yên lặng lắng nghe Trường Tu lão giả đó giải thích, lúc thì tú mục ẩn tình tập trung vào Mộng Hoàn mỉm cười, ánh sáng chiếu nhìn nàng, càng thấy duyên dáng vô cùng, a đầu này đơn giản và thẳng thắn, tâm thuần khiết như ngọc, nàng gặp Hoàn ca ca là nói nói cười cười, âu cũng là chả phải lo lắng gì.


Chú giải:
(1) Thần sông Lạc Thủy
(2) Tên một vị tiên trên trời
(3) kiêu kiêu là một loài chim dữ giống như loài cú ăn thịt người.

Published in: on 14/03/2011 at 2:30 chiều  Để lại phản hồi  

The URI to TrackBack this entry is: https://thamvien.wordpress.com/2011/03/14/ch%c6%b0%c6%a1ng-m%e1%bb%99t-b%e1%ba%a1ch-y-thi%e1%ba%bfu-n%e1%bb%af/trackback/

RSS feed for comments on this post.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: